a

THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN LÀNH VÀ HẠNH PHÚC

b

b
CHÚC QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN HOÀNG DIỆU NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 VẠN SỰ NHƯ Ý - AN KHANG THỊNH VƯỢNG.
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRUYEN NGAN SUU TAM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRUYEN NGAN SUU TAM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

SỰ TRÙNG HỢP LẠ LÙNG MÀ “CHUYỆN TÌNH BUỒN” MANG LẠI

 


Trước tiên xin được nói ngay: người thiếu nữ trong tấm hình đăng kèm bài này, đó chính là chị Nguyễn Thị Túy thời trẻ, nguyên mẫu của nhân vật “em” trong ca khúc “Chuyện tình buồn” (nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ Phạm Văn Bình). Hình này do chị Túy gởi cho mình!
Mọi người đã quá biết “Chuyện tình buồn” là một trong những bản nhạc tình rất hay và cực kỳ lãng mạn của nền âm nhạc miền Nam Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh. Câu chuyện trong bài thơ hay bài hát đều kể về một thanh niên có gia đình theo đạo Phật, đem lòng yêu một cô gái rất đẹp theo đạo Công giáo. Hồi đó, những câu chuyện như thế này là không hề thiếu, và chắc chắn là luôn gặp phải trắc trở vì bị cả hai gia đình, thậm chí cả dòng họ ngăn cấm tới cùng!
Tôi được nghe ca khúc này lần đầu quãng những năm 1984 - 1985, khi vừa mới lớn. Từ đó đến cách đây 1 năm (năm 2023), vì nhiều lý do, có lúc tôi quên khuấy khúc ca mà mình đã từng thích ấy, hoặc cũng “5 thì 10 họa” mới có dịp nghe lai bản nhạc này. Nhưng thật kỳ lạ, chỉ trong vòng 1 năm trở lại đây thôi, đã có quá nhiều điều, nếu nói là tình cờ ngẫu nhiên cũng được, mà nói là nhân duyên cũng đúng, đã đến với tôi, xoay quanh “Chuyện tình buồn”.
Ngày 1/4/2023, cách đây chẵn chòi 1 năm, tôi về vùng Cù Bị (Đồng Nai) nơi có nhiều cánh rừng cao su bạt ngàn chơi, dừng xe máy chụp cái hình đăng Facebook. Lát sau thấy cậu bạn thời niên thiếu bình luận vui "Anh một đời rong ruổi". Chuyện tưởng tới đó rồi thôi, ai dè lại là khởi nguồn của nhiều điều kỳ lạ.
Tới ngày 4/4/2023, tôi đọc được một bài viết trên Facebook có thêm nhiều thông tin về những người có liên quan tới nhạc phẩm này. Ngứa nghề, nên tôi có viết “Chuyện tình buồn 5 năm rồi không gặp”, ban đầu đăng báo... Facebook, sau được tờ Saigonnhonews bên Hoa Kỳ đăng lại.
Ngày 5/4/2023, tài khoản "Tuy Nguyen" liên lạc, lúc đó mình mới biết đó là chị Nguyễn Thị Túy - nguyên mẫu trong "Chuyện tình buồn" quá nổi tiếng, khi chị nhắn "Chị đọc bài viết của em, chị có cảm tưởng như em đang ở trong nhà chị hoặc nhà anh Bình. Em thân với anh Bình hay sao?". Chị Túy tưởng mình là người cùng thời, hoặc bà con, thậm chí có thể là người quen thân gia đình anh Bình, song thật sự không phải vậy. Tôi chỉ là kẻ hậu sinh, mọi thông tin để viết nên bài ấy, lớp tôi lục tìm tư liệu, lớp tôi hỏi thêm những người cùng thời với anh Bình, chị Túy, mà biên ra thôi.
Và kể từ đó, tôi và chị Túy, từ 2 người cách xa về tuổi tác, chẳng hề quen biết và cũng ở xa nhau đến nửa vòng trái đất, đã trở nên thân quen, thường hay hỏi thăm nhau.
Tới hôm nay, 1/4/2024, đúng 1 năm sau ngày “Chuyện tình buồn” được gợi nhớ lại, tình cờ chị Túy lại gọi điện từ Hoa Kỳ về nói chuyện với tôi!
Chị Túy kể, anh Phạm Văn Bình và chị có nhà ở chung trong một con hẻm trên đường Phan Bội Châu, thị trấn Đông Hà. Chị Túy có người anh trai là bạn cùng trang lứa với Phạm Văn Bình. Nhiều lần gặp gỡ, nói chuyện, lại thấy người thiếu nữ này quá đẹp, học hành đàng hoàng (chị Túy không học ở Đông Hà mà học ở Huế), lại dễ nhìn, nên Phạm Văn Bình ưng quá ưng mà đem lòng yêu đương. Khi họ yêu nhau, có người ở Đông Hà ngày ấy nói rằng đôi trẻ quấn quýt không rời.
Đến giờ cũng không có nhiều người biết câu chuyện tình của thi sĩ Phạm Văn Bình và người thiếu nữ trong ca khúc “Chuyện tình buồn” này chớm nở từ lúc nào, nhưng lúc họ chia tay, có lẽ vào quãng giữa thập niên 60 của thế kỷ XX! Cũng có người phỏng đoán rằng năm 1963 anh Phạm Văn Bình 23 tuổi và chị Tuý mới 16 tuổi nên cũng có thể họ đã yêu nhau trong khoảng thời gian này.
Nhưng tôn giáo đã khiến họ phải xa nhau. Không lấy được anh Bình, lúc đó chị Túy đứng trước sự "tấn công dữ dội" của nhiều chàng trai, trong đó có 1 anh liên hồi hối thúc quá dữ dù khi ấy chị còn đi học và chỉ mới cỡ 18 tuổi, như chị nói “hồi đó chị nhác học và chỉ ưa đi chơi”. Lấy chồng xong đẻ con tới tới, nên tấm hình mà mọi người vừa xem, lúc đó đã “tay bế tay bồng” rồi. Phạm Văn Bình sau này gặp lại người yêu cũ đã viết “Anh một đời rong ruổi; em tay bế tay bồng” là vậy.
Trong câu chuyện, chị Túy cho rằng “Chuyện tình buồn” không còn là thân phận đau thương của riêng chị, mà cũng là câu chuyện của rất nhiều người con gái sống trong thời chiến tranh ly loạn".
Chị Túy kể rằng ngày trước nhà chị ở Huế, ngay cổng trước của trường Thiên Hựu (nay là đường Nguyễn Huệ chạy ngang trước Trường Đại học Tổng hợp Huế). Vì chiến tranh mà chị và gia đình bên chồng đã từng ở rất nhiều nơi, từ Huế vô Dĩ An, ra Nha Trang, lại vô Bình Tuy. Chị vẫn còn nhắc về vùng Quảng Biên, Trà Cổ, Trảng Bom, Cù Bị, Ngãi Giao… mà ngày ấy chị có nhiều người quen ở đó, cũng như từng qua lại nhiều lần. Sau 1975, chị chuyển vô vùng Bàu Cá (Long Khánh) có được hơn mẫu đất của mẹ chồng cho nên trồng mít, rồi hái mít, và đi bán mít trần ai lai khổ. Sau đó chị lên Saigon ở, và năm 2006 qua Hoa Kỳ định cư với mấy người con. Và trùng hợp thay, thi sĩ Phạm Văn Bình cũng định cư ở đây, nhưng ông đã mất hồi năm 2018 rồi.
Giai nhân Nguyễn Thị Túy ngày nào còn nhắc về “một thời của những chàng trai đang lứa tuổi tràn đầy nhựa sống yêu đương, phải xếp bút nghiên, từ giã người yêu, lên đường chinh chiến, rồi có khi phải trở về trong chiếc poncho im lặng”.
Nhớ lại, hầu như những người yêu nhau trong thời buổi chinh chiến ấy đều dường như tìm thấy hình ảnh của chính mình trong bài thơ. Lứa thanh niên ở nông thôn hay đô thị, ngồi trên giảng đường hay mưu sinh ngoài đường phố, trong đó nhiều nhất có lẽ là những chàng trai lính chiến, đều có thể “hát nghêu ngao” ít nhất vài câu của bản nhạc “Chuyện tình buồn” này, và không thiếu người xem như chính câu chuyện tình éo le đó là của chính mình vậy!
“Chuyện tình buồn” từ khi xuất hiện và đến tận bây giờ, hơn 50 năm đã qua, luôn được xem là một nhạc khúc không chỉ buồn, mà còn quá buồn cho một chuyện tình dang dở. Câu chuyện tình yêu đượm buồn của thời tuổi trẻ nhưng lại mang nhớ thương day dứt mãi hoài, và có gì đau thương hơn khi người mà ta yêu thương nhất năm xưa, nay đã là góa phụ bồng con ngồi bên song cửa mà buồn…
Chiến tranh không chừa ra điều gì, nó mang lại bao nỗi đau thương, mất mát và nghịch cảnh đến rất, rất nhiều gia đình. Rất nhiều những goá phụ trạc tuổi như chị Túy còn đang xuân mà một nách mấy người con, là chuyện thường tình.
Bất chợt, tôi nhớ đến bà ngoại của các con tôi cũng vậy, có lẽ cùng lứa tuổi với chị Túy, cũng cùng cảnh ngộ một nách 2 con thơ lại còn mang bầu đứa thứ 3 lúc còn son trẻ khi ông ngoại các cháu tử trận tại chiến dịch Lam Sơn 719 năm 1971. Khi đó “bà cụ thân sinh” của 2 con tôi mới chỉ là bào thai nơi người thiếu phụ quê Cồn Hến ở Huế. Bà ngoại mấy cháu lúc đó chưa qua tuổi 30 mà chịu ở vậy nuôi 3 đứa con đến giờ. Ôi trời ơi chiến tranh: lắm khổ đau, nhiều mất mát và dư thừa nghịch cảnh!
Chiều thu năm nào đó chiếu xuống nơi xóm đạo an lành, theo đó là ánh thu buồn hắt hiu khi chuông nơi giáo đường năm ấy ngân nga. Thời gian vài ba năm cứ ngỡ là lâu, ai dè nay gặp lại thì tưởng chừng như mới vừa hôm qua.
Sau tất cả, chuyện tình giữa chàng trai và giai nhân ấy không thành, chàng trai cứ ôm nỗi đau cho riêng mình mà không một lời oán hận chi hết. Mà trên đời ni không hề thiếu những chàng trai gặp cảnh ấy, và cũng chấp nhận vậy.
Ôi câu chuyện cả bên trong lẫn bên ngoài của bài ca ấy sao buồn quá, nó cứ đeo đuổi và vẫn ở mãi trong ký ức chúng ta, từ lần đầu tiên nghe bản ấy, tới tận bây giờ, mà chắc cũng sẽ mãi về sau!
Bữa nay lại miên man với “Chuyện tình buồn”, trong đầu cứ dồn dập với “bao kỷ niệm chôn kín, dường như đã lãng quên”…

Bài: Lê Hồng Minh


SỰ THẬT VỀ CỤ ÔNG SUỐT 25 NĂM, SỐNG LẶNG LẼ Ở SÂN BAY
Suốt 25 năm, ông cụ lặng lẽ sống ở sân bay, như cái bóng giữa dòng người qua lại, ai cũng từng chỉ trỏ, bàn tán. Cho đến một ngày, sự thật về thân phận ông khiến tất cả phải lặng người trong xúc động.
Sân bay Tân Sơn Nhất những năm gần đây đã trở nên hiện đại và náo nhiệt hơn bao giờ hết. Hành khách kéo vali lộc cộc, tiếng loa thông báo chuyến bay vang vọng đều đặn, những cuộc chia ly và đoàn tụ nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Giữa dòng người hối hả ấy, chẳng ai không từng nhìn thấy một hình bóng quen thuộc – một ông cụ gầy gò, tóc bạc trắng, khoác chiếc áo khoác cũ kỹ, ngồi lặng lẽ bên góc ghế chờ gần cổng ra vào quốc tế.
Người ta gọi ông bằng nhiều cái tên: “ông cụ sân bay”, “người lang thang thời gian”, thậm chí có người đùa gọi là “hồn ma lạc lối”. Có những đứa trẻ chỉ vào ông rồi thầm thì với mẹ cha, người lớn cũng từng ái ngại mà bỏ lại vài gói mì tôm, chai nước, hay đôi khi là tờ tiền lẻ. Nhưng ông chưa từng xin ai bất cứ điều gì. Ông chỉ ngồi đó, mắt nhìn xa xăm như chờ đợi một điều gì đó sẽ đến từ những chuyến bay không ngừng cất cánh và hạ cánh mỗi ngày.
Không ai biết ông đến từ đâu. Không ai rõ vì sao ông lại chọn sống suốt 25 năm giữa nơi nhộn nhịp này, nơi mà ai cũng chỉ dừng lại tạm thời, chứ chẳng ai ở lại vĩnh viễn.
- “Ông ta bị mất trí nhớ.” – một anh bảo vệ từng nói với cô lao công.
- “Không phải đâu, nghe đâu ông ấy từng là Việt kiều, bị con cái bỏ rơi lúc về nước.” – chị bán cà phê trong sân bay thì thầm.
- “Cũng có khi là gián điệp thời chiến, không dám để lộ danh tính.” – có người thêu dệt, kèm nụ cười nửa miệng.
Mỗi người một giả thuyết, một mảnh ghép vụn vặt để cố ghép nên câu chuyện chưa có hồi kết. Nhưng ông cụ thì chẳng bao giờ giải thích. Ông chỉ lặng lẽ sống – như thể sự im lặng của ông là một phần của những âm thanh ồn ào kia, là tiếng ngân dài của thời gian bị lãng quên.
Một ngày đầu mùa thu năm 2020, khi mưa Sài Gòn kéo đến bất chợt, một cô phóng viên trẻ tên là Hà xuất hiện tại sân bay. Cô được giao thực hiện một phóng sự về “cuộc sống thường ngày ở sân bay”, và khi lướt qua góc ghế quen thuộc, cô thấy ông cụ – ướt lấm tấm mưa, tay ôm khư khư chiếc va-li cũ sờn góc. Tò mò, cô dừng lại hỏi chuyện.
Lúc đầu, ông không trả lời. Nhưng cô gái trẻ không bỏ cuộc. Cô mang nước, mang bánh mì, thậm chí ngồi cùng ông cả buổi chiều mà chẳng hỏi gì thêm. Cô chỉ kể về mình – một cô phóng viên tỉnh lẻ lên thành phố, làm nghề vì đam mê kể chuyện của con người.
Sau ba ngày như thế, ông cụ cuối cùng cũng lên tiếng – bằng một chất giọng trầm, rõ ràng và đầy cảm xúc.
- “Cháu có tin là có những người sống cả đời chỉ để đợi một người không?”
Hà ngỡ ngàng. Lần đầu tiên, ông cụ không còn là một bóng mờ, mà trở thành một con người – với giọng nói, ký ức, và một trái tim chưa bao giờ thôi chờ đợi.
Chuyện của 45 năm trước
Ông tên là Trần Văn Minh. Năm 1975, ông theo chuyến bay định mệnh rời Việt Nam sang Mỹ cùng vợ và con gái nhỏ, chỉ 3 tuổi. Nhưng giữa cảnh hỗn loạn lúc ấy, ông bị thất lạc vợ con ở sân bay. Máy bay không thể quay lại, và thế là ông đi Mỹ một mình ở cái tuổi 40 – mang theo nỗi day dứt, mang theo trái tim bị xé đôi.
Cuộc sống ở Mỹ không dễ dàng, nhưng ông luôn giữ hy vọng một ngày sẽ quay lại tìm vợ con. Ông học hành, làm việc, tích cóp từng đồng. Sau 20 năm, (1995) khi đã đủ điều kiện, ông trở về – nhưng không còn ai ở địa chỉ cũ, không còn tin tức. Họ đã biến mất như cơn gió năm nào.
Ông lục tung hồ sơ, tìm đến từng nơi có thể. Nhưng chẳng có gì. Duy chỉ có một điều ông giữ chắc trong lòng: vợ ông từng nói, nếu một ngày nào đó bị lạc nhau, hãy quay lại sân bay, nơi họ từng bắt đầu chia xa.
Và thế là, một sáng mùa thu năm 1995, ông trở lại Tân Sơn Nhất – ngày đó ông 60 tuổi. Giờ đã 85 tuổi. Hai mươi lăm năm ông sống ở đây, mỗi ngày đều dõi theo từng chuyến bay, từng khuôn mặt. Có lần ông tin là đã thấy bà – một người phụ nữ tuổi lục tuần, ánh mắt rất giống – nhưng rồi bà quay đi, ôm tay một người đàn ông lạ. Ông không đuổi theo. Vì ông sợ sai. Và cũng vì, ông nghĩ, nếu là bà – chắc chắn bà sẽ nhận ra ông.
- “Cháu biết không,” ông khẽ cười, đôi mắt đầy nước, “Mỗi ngày trôi qua, ta sợ không còn đủ thời gian. Nhưng ta vẫn ngồi đây, vì nếu bà ấy còn sống, chắc chắn sẽ quay lại. Chúng ta đã hứa với nhau mà…”
Tin tức gây chấn động ...
Hà lặng người. Cô quay về với cuốn băng ghi âm, và chỉ trong vài ngày sau khi phóng sự “Người lữ khách cuối cùng” được đăng tải, mạng xã hội bùng nổ. Bài viết lan tỏa với hàng trăm nghìn lượt chia sẻ. Nhiều người cảm động rơi nước mắt, nhiều Việt kiều liên hệ cô để hỏi thêm thông tin.
Và rồi một điều kỳ diệu đã xảy ra.
Một người phụ nữ tên là Trần Thị Ngọc Linh – hiện sống tại Melbourne, Úc – liên hệ với Hà, gửi ảnh chụp bà cùng mẹ ngày còn nhỏ. Hà run rẩy khi nhìn thấy cô bé trong ảnh – đôi mắt giống hệt ông cụ, và sau lưng tấm ảnh là dòng chữ “Gửi ba Minh, nếu ba còn sống, con vẫn chờ.”
Cuộc gọi video đầu tiên sau 45 năm – giữa ông Minh và con gái – là những tiếng nấc, là những “ba ơi”, “con đây”, là những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt già nua và khuôn mặt đã trở thành mẹ.
Họ hẹn gặp nhau – không phải ở sân bay – mà ở chính căn nhà nhỏ ông đang được chăm sóc bởi một nhóm tình nguyện sau khi câu chuyện lan rộng.
Ngày đoàn tụ:
Ngày hôm ấy, trời Sài Gòn nắng dịu. Bà Linh – giờ đã là một phụ nữ 48 tuổi – bước xuống từ xe, tay run rẩy cầm theo chiếc khăn tay cũ màu hồng, thứ duy nhất còn giữ từ mẹ cô – và là bằng chứng cuối cùng của mối liên kết máu thịt.
Ông Minh, ngồi trên chiếc ghế gỗ trong sân nhà, nhìn thấy con gái bước vào – không nói được lời nào. Chỉ có hai cánh tay run run dang ra, và cái ôm nghẹn ngào kéo dài mãi mãi như thể thời gian đã ngừng trôi.
- “Ba vẫn ngồi chờ con suốt 25 năm… ở cái nơi lần đầu ba lạc mất hai mẹ con con cách đây 45 năm”
- “Con xin lỗi, ba… Con cứ tưởng ba đã không còn…
Hiện nay mẹ con yếu lắm. đi đứng rất khó khăn, toàn phải vịn xe lăn để đi. Mẹ lúc nhớ lúc quên, nhưng luôn cầu trời cho được gặp lại ba. Lần này con về để đón ba sang Úc đoàn tụ gia đình”
Và sau đó…
Không ai còn thấy ông cụ ngồi ở sân bay nữa. Góc ghế quen thuộc giờ trống trải, nhưng trong lòng mọi người vẫn in hình bóng ông. Người bảo vệ năm xưa cũng thay đổi thái độ, nói với ai đó mới đến: “Nơi đó từng có một người cha, sống bằng niềm tin, chờ đợi suốt nửa đời người.”
Hà kết thúc phóng sự của mình bằng một dòng đơn giản:

“Không phải ai đi sân bay cũng chỉ để đi. Có người, ở đó, chỉ để chờ.”
Sưu tầm


Năm 1961, một người đàn ông chỉ mới học hết lớp 8 đã cầm một cây bút chì trong phòng giam của mình, và không hề hay biết rằng mình vừa thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi.
Clarence Earl Gideon là một kẻ lang thang nghèo khổ với làn da sạm sương gió, mái tóc bạc và một cuộc đời đầy rẫy những thăng trầm. Ông sống qua ngày bằng những công việc lặt vặt, những phòng trọ rẻ tiền và thỉnh thoảng là vài lần vào tù ra tội. Cuộc sống của ông chỉ là chuỗi ngày lay lắt bước qua gian khó.
Khi hầu tòa tại Florida vào năm 1961 với cáo buộc đột nhập vào một quán bida, ông không có một đồng dính túi, và dĩ nhiên, không có luật sư.
Bằng chứng chống lại ông vô cùng lỏng lẻo. Có người nói đã thấy ông ở gần tòa nhà đó với những đồng xu trong túi. Trùng hợp thay, một ít tiền mặt và bia trong quán lại bị mất trộm.
Chỉ bấy nhiêu thôi là đủ để buộc tội.
Trước khi phiên tòa bắt đầu, Gideon đã đưa ra một yêu cầu đơn giản:
“Thưa Tòa, tôi yêu cầu Tòa án chỉ định một luật sư để đại diện cho tôi.”
Nhưng vị thẩm phán đã từ chối.
Vào thời điểm đó, luật pháp bang Florida chỉ chỉ định luật sư cho các vụ án tử hình, chứ không áp dụng cho những bị cáo nghèo bị cáo buộc các tội danh nhẹ hơn. Thế là, một người đàn ông chưa học hết cấp hai được kỳ vọng sẽ tự mình đứng vững chống lại những công tố viên lão luyện.
Nhưng ông vẫn cố gắng.
Ông tự chất vấn các nhân chứng.
Ông lập luận rằng mình vô tội.
Ông làm tất cả những gì một người bình thường có thể làm.
Nhưng bồi thẩm đoàn chỉ mất vài phút để tuyên ông có tội.
Án phạt: 5 năm tù giam.
Gặp hoàn cảnh ấy, hầu hết mọi người sẽ chấp nhận số phận. Nhưng Gideon thì không.
Trong thư viện nhà tù, ông bắt đầu chậm rãi tự học về Hiến pháp. Ông nghiên cứu Tu chính án thứ Sáu và luôn bị ám ảnh bởi một câu hỏi:
Làm sao công lý có thể tồn tại nếu chỉ những người giàu mới có tiền để thuê một luật sư bào chữa thực sự?
Sau khi bị tòa án Florida bác đơn, Gideon ngồi trong phòng giam, cầm một cây bút chì và viết thư gửi thẳng lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. 5 trang giấy viết tay. Sai chính tả chi chít. Nét chữ nguệch ngoạc, thô kệch.
Nhưng thông điệp thì rõ ràng và đanh thép: Điều này là sai trái.
Vượt qua những tỷ lệ cược gần như bằng không, Tòa án Tối cao đã đồng ý thụ lý vụ án của ông.
Họ chỉ định Abe Fortas — một trong những luật sư xuất sắc nhất đất nước lúc bấy giờ — làm người đại diện cho ông. Luật sư Fortas đã đưa ra một lập luận đơn giản đến đau lòng: Nếu ngay cả những luật sư lão luyện nhất vẫn phải thuê luật sư khi họ bị buộc tội, thì làm sao một người đàn ông không quản học thức lại có thể tự bào chữa cho mình một mình?
Vào ngày 18 tháng 3 năm 1963, Tòa án Tối cao đã ra phán quyết đồng thuận tuyệt đối (100% phiếu thuận) nghiêng về phía Gideon.
Từ khoảnh khắc lịch sử đó, mọi bị cáo nghèo bị buộc tội hình sự nghiêm trọng tại Mỹ đều có quyền hiến định được cấp luật sư miễn phí. Phán quyết này đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của hệ thống tư pháp Mỹ.
Gideon được xét xử lại, nhưng lần này là với một luật sư thực thụ bên cạnh. Hồ sơ của bên công tố nhanh chóng sụp đổ. Các nhân chứng lộ rõ sự bất nhất và không đáng tin cậy. Sự hoài nghi bao trùm cả phòng xử án.
Và bản án cuối cùng được đưa ra: VÔ TỘI.
Sau hơn 2 năm ngồi tù oan uổng, Clarence Earl Gideon đã ngẩng cao đầu bước ra quyền tự do.
Nhiều năm sau, ông qua đời trong nghèo khó và ban đầu được chôn cất trong một ngôi mộ vô danh. Nhưng những lời ông viết năm xưa thì vẫn sống mãi.
Ngày nay, bất cứ khi nào ai đó nghe thấy câu nói quen thuộc trong các bộ phim hình sự Mỹ: "Nếu bạn không thể thuê luật sư, tòa án sẽ chỉ định một luật sư cho bạn," thì đó chính là tiếng vọng từ một người đàn ông gầy gò ngồi một mình trong phòng giam với cây bút chì trên tay.
Clarence Gideon đã chứng minh một điều: Đôi khi lịch sử thay đổi chỉ vì một người bình thường đã từ chối im lặng.




Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2026

TRUYỆN RẤT NGẮN



1. Mưa đầu mùa (Nguyễn Thanh Xuân)

Những cơn mưa đầu mùa thường ập đến bất ngờ, nước tuôn xối xả. Hàng hiên nhà tôi đầy người đến trú mưa, ồn ào như chợ vỡ, nhất là cánh bán hàng rong. Tôi thật bực mình vì công việc của tôi cần sự yên tĩnh.
Mẹ thì khác, những lúc ấy bà vui như "cá gặp nước", những kỷ niệm vui buồn ngày xưa với gánh hàng của bà (ngày xưa) như không bao giờ dứt. Có lúc bà còn hào phóng mua hết những thức ăn ế ẩm của họ, dù sau đó không sao dùng hết phải đem cho đi. Tôi tỏ ý khó chịu, Mẹ chỉ cười buồn bảo: "Những thứ ấy đã một thời nuôi con khôn lớn đó...".
Tôi nhớ lại những cơn mưa đầu mùa ngày trước, Mẹ gánh hàng về ôm tôi khóc, chợt thấy chạnh lòng...

2. Những chiếc bao lì xì

Ba Mẹ làm lớn, tết đến tôi được nhận nhiều bao lì xì đỏ thật đẹp với lời chúc học giỏi và chóng lớn. Những bao lì xì xé ra tôi mua đồ chơi và tiền bỏ đầy con heo đất.
Chiều, thấy thằng con dì Ba cầm thật nhiều bao lì xì. Tôi hỏi: "Mầy được bao nhiêu?"
Nó đáp; "Em nhặt ở sọt rác nhà anh 50 cái bao không".

3. Phần Cô (H.M.N.)
Sinh nhật cô giáo, cả lớp mang tặng cô nào hoa, nào vải may áo dài...
Giở gói quà của Hằng ra, cô ngạc nhiên thấy một củ khoai và một bông hồng. Hồn nhiên, Hằng bảo: "Ngày nào em cũng được ăn khoai lang nướng ngon lắm cô ạ. Chắc cô chưa bao giờ được ăn?".
Hỏi dò mới biết ba mẹ Hằng mất sớm, nhà em phải ở ngoài triền đê, một mình vất vả nuôi hai em. Quà của Hằng là bữa trưa mà em dành phần cho cô giáo.

4. Đi thi (Ngô thị Thu Vân)

Chị Hai đi thi đệ thất. Ba thức dậy từ tờ mờ chở chị đi trên chiếc xe đạp cũ. Chị Hai đậu thủ khoa. Má bảo: "Nhờ Ba mầy mát tay". Từ đó, lần lượt tới anh Ba rồi cô Út- cấp II, cấp III, tú tài, đại học. Đứa nào cũng một tay Ba dắt đi thi. Giờ cả ba đều thành đạt.

...Buổi sáng trời se lạnh. Ba chuẩn bị đi thi "Hội thi sức khoẻ người cao tuổi". Má nhìn Ba ái ngại. "Để tôi gọi taxi. Tụi nhỏ đều bận cả".

Buổi tối Má hỏi: "Ông thi sao rồỉ". Ba cười xòa bảo: "Rớt".

Bao Nguyen Quang ST.
Ảnh: Internet 



Thằng bạn lấy vợ, hai người thuê chung cư ở riêng .
Thời gian đầu nó còn năng mời bạn bè tới nhà chơi (chủ yếu là nhậu nhẹt, chè chén..)
Cứ vài ngày một lần, rồi thưa dần, tới bây giờ thì cả tháng nó không gọi thằng nào vào nhà nữa.
Hôm nay lôi nó ra quán, có thằng khoát vai-phà vào mặt nó hơi thở nồng nặc mùi mắm tôm rồi hỏi gay gắt :
- Quên anh em rồi à??
- Đâu có ! Nó cười cười
- Sao lâu không thấy gọi bọn tao tới nhà nhậu??
- Chúng mày biết không?
Nó trầm giọng:
- Tao không nhớ được đã bao nhiêu lần tao nhậu say, nhưng tao biết được ai luôn là-người-dọn-dẹp-bãi-chiến-trường bày ra sau mỗi lần nhậu của tao và tụi mày..
Mấy thằng im phăng phắc nhìn nó ngạc nhiên. Nó dường như không thèm để ý, tiếp tục lẩm bẩm:
- Vợ tao chứ ai, mỗi lần chúng mày nhậu xong đứng dậy về hết, tao lên giường ngủ, cô ấy lại lúi húi dọn dẹp một mình.
Có bữa cùng bọn mày nhậu khuya rồi nằm bệt trên ghế salon, nửa đêm tỉnh giấc-thấy vợ tao một tay kéo cái chậu to đầy ắp bát đĩa , một tay cầm cái chổi di di, lau dọn bãi nôn của tao giữa nhà...
....
Nhìn từ xa, hình như tao vẫn thấy mắt cô ấy ngân ngấn nước.
Lúc đó, là một thằng đàn ông, đáng ra tao phải chạy đến ôm lấy cô ấy rồi an ủi, nhưng tao say đến việc hít thở còn khó khăn, nên chỉ có thể nằm đó, làm cái việc hèn nhát là vắt tay lên trán rồi rớt nước mắt..
Tự hứa với bản thân rằng lần sau sẽ không làm như vậy...
Nó vẫn tiếp tục lẩm bẩm:
- Tao nói đến câu này, có thể chúng mày nghĩ tao sợ vợ, hay yếu đuối thế nọ thế kia. Nhưng tao nói thật, tự bản thân tao biết được là tao THƯƠNG chứ không phải SỢ..!!
- Ậy ! Nói gì lắm thế! Hay mày say rồi? Uống đi!
Tôi giơ cốc bia ra mời thằng bạn, định bụng chấm dứt chủ đề này.
- Lời say mới là lời thật! Mày để tao kể nốt đã !
Nó gạt đi rồi vẫn lẩm bẩm, giọng trầm trầm như đọc kinh .
- Hồi xưa tao còn nhỏ, mỗi lần bố tao lôi bạn bè, các chú, các bác về nhậu nhẹt. Nhìn mẹ tao dọn dẹp hàng núi bát đĩa các ông ấy bầy ra, rồi ông già tao say rượu lè nhè, chửi mắng mẹ, rồi tao bằng những lí do vô cớ.
Tao rất thương mẹ, ghét bố tao mỗi lần say.
Tự hứa với bản thân rằng sau này sẽ không như thế, vậy mà tao lại đi vào vết xe đổ. Làm khổ vợ tao mỗi lần uống say..
- Cho nó làm cho quen đi! Vợ mày lấy về để ở cùng chứ có phải là để thờ đâu?
Một thằng nói chen vào.
- Tao lấy vợ về để sống cùng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, chứ không phải để hầu hạ tao.
Nó cãi.
- Vợ mày ở quê, làm lụng sương gió nó quen rồi! Chứ có phải tiểu thư đài các gì đâu mà mày chiếu cố thế?
Có thằng nói đểu.
- Chính vì tuổi thơ cô ấy chịu thiệt thòi, nên tao là chồng, lấy về chăm sóc cô ấy là để bù đắp.
Tất cả im phăng phắc, chẳng ai còn tranh cãi với nó. Có thằng cười đểu, có thằng lại cúi mặt xấu hổ với bản thân. Mỗi người một suy nghĩ, không ai o ép nhau được.
Riêng tôi thì cảm phục nó...
Văng vẳng câu nói :
- "Đàn bà , hơn thua nhau ở tấm chồng."
BASED ON A TRUE STORY...
Sưu tầm


NGƯỜI ẤY VÀ TÔI
Năm học cuối cấp tôi lấy một nửa tờ giấy viết mấy chữ in hoa nắn nót . TAO YÊU MÀY CÓ ĐƯỢC KHÔNG ? Gửi người bạn gái ngồi bàn trên . Tôi gói cái thước kẻ vào bên trong tờ giấy , chọc chọc vào lưng hắn ta . Hắn ta không ngoảnh lại , mà quơ tay về phía sau lấy cả cái thước ? Một lúc sau tôi nhận lại chiếc thước kẻ đập đập vào chân tôi dưới gầm bàn . Cúi xuống cầm lên vẫn tờ giấy ấy , mở ra mỗi chữ ĐƯỢC to tướng nguệch ngoạc ?
-Tôi xem mấy lần cười tủm , quên mất đang là giờ giảng văn của cô Liên
- Cô xuống bàn tôi lúc nào mà tôi không biết , vẫn mải ngắm chữ ĐƯỢC . Cô nói nhẹ nhàng
Em Kh đứng dậy, em đưa cô tờ giấy đang cầm ?
Tôi giật mình đứng lên như một cái lò xo mất bình tĩnh , đưa ngay tờ giấy cho cô , toàn thân run lên vì bất ngờ và sợ .
Cả lớp nhìn về phía tôi ... không hiểu chuyện gì ? Bàn trên mọi người ngoái lại ...cái người ấy thì không?
Cô nhìn tôi không nói và trả lại cho tôi tờ giấy (1968)
Rồi tôi vào lính ...người ta vào đại học Xa nhau đằng đẵng . Những lá thư đi ... những lá thư về làm cho chúng tôi càng hiểu nhau hơn .
Tôi kể cho người ta nghe những đêm hành quân vượt sông gian khổ hiểm nguy , những chiều hành quân qua những miền đồi vắng , không bóng người mà chỉ có hoa sim . Rồi những trận đánh ác liệt với quân thù . Người ta kể cho tôi nghe những năm đi học sơ tán vật chất thiếu thốn , nhưng luôn có hình tôi trong trái tim động viên .
Người ta cũng dạy văn , người ta nhắc lại chuyện cũ , cô giáo dạy văn trả lại tờ giấy có chữ ĐƯỢC cho tôi . Người ta nhớ lại .... bảo lúc đó người ta cũng bình thường không sợ ? Chỉ hơi lo lo thôi , khi cô Liên trả lại tờ giấy cô không nói gì , người ta bảo nhẹ nhõm lâng lâng một ý nghĩ xa xôi
Chiến tranh kéo dài ? Có lần trong thư người ta viết . " Chiến tranh không biết khi nào kết thúc , mà thì người con gái thì có hạn ...biết tìm anh nơi đâu"
Mãi cho đên cuối 1979 tôi mới có dịp về phép lâu ngày ...chữ ĐƯỢC thành hiện thực
Và rồi sau 32 năm con cái thành đạt các cháu ngoan ...chữ ĐƯỢC không còn nữa chữ MẤT thay chỗ . Đời là vậy không ai biết trước điều gì ?
Có lẽ là số phận ? Hay là người ta không muốn ở với bố con tôi . Cũng có khi tổ tiên gọi người ta về
Trong làn khói hương mong manh , tôi vẫn thấy người ta về . Người ta vẫn như ngày nào ? Rồi người ta lại ra đi ... Để lại mình tôi trong nỗi buồn trống vắng , cô quạnh
VỚI EM
Nắng rồi cũng sẽ tắt
Mưa rồi cũng ngừng rơi
Chỉ có tình yêu em
Là duy nhất trong đời
Đã theo anh đi cùng năm tháng
Dù sông sâu , một ngày kia nước cạn
Dù âm dương cách vời
Anh vẫn luôn nhớ về em

Hà Nội mùa côvid tháng 7 - 2021
Bài và ảnh Tác giả:Bùi Đình Khoa
ST.


 

Vào mùa xuân năm 2008, cô bé Katie Stagliano chín tuổi trở về nhà sau giờ học ở Summerville, South Carolina, mang theo một chiếc cốc nhựa nhỏ với một cây bắp cải con bên trong. Đây chỉ là một dự án lớp ba đơn giản. Mỗi học sinh được phát một cây để mang về nhà chăm sóc.
Hầu hết trẻ em chỉ xem nhẹ nhiệm vụ này. Một vài cây có thể sống sót một tuần hoặc hai trước khi bị lãng quên trên bậu cửa sổ hoặc bị bỏ khô ngoài sân.
Katie thì khác.
Cô cẩn thận mang chiếc cốc nhỏ ra vườn sau và trồng cây con trong khu vườn của gia đình. Ban đầu nó trông yếu ớt, chỉ là một mầm xanh mỏng mọc qua vài lớp đất. Không có gì đặc biệt.
Nhưng Katie kiểm tra nó mỗi ngày.
Cô tưới nước vào buổi sáng trước khi đi học. Sau khi làm bài tập về nhà, cô quỳ xuống đất xem có gì thay đổi không. Cô quan sát lá cây mở rộng và vươn về phía ánh nắng. Những gì bắt đầu chỉ là một thí nghiệm lớp học dần trở thành một phần trong thói quen hàng ngày của cô.
Tuần trôi qua.
Cây bắp cải tiếp tục lớn lên.
Ban đầu trông nó bình thường. Rồi trở nên khác thường. Lá cây lan rộng như những bàn tay xanh khổng lồ, uốn chồng lên nhau thành từng lớp dày. Cây lớn hơn tất cả những gì Katie tưởng tượng, lớn hơn cả các cây mà bạn cùng lớp cô mang về.
Hàng xóm bắt đầu để ý khi đi ngang qua vườn. Người thân dừng lại và tròn mắt khi đến thăm.
Cây bắp cải vẫn tiếp tục lớn.
Cuối mùa, khi Katie và cha mẹ thu hoạch, họ cân nó.
40 pounds (gần 18 kg).
Cây bắp cải gần bằng chiều ngang cơ thể Katie. Những chiếc lá xanh nhạt xếp chồng lên nhau như những tấm chăn nặng. Nó trông không giống một cây vườn sau nhà nữa mà giống một giải thưởng rau quả ở hội chợ hạt quận.
Nó quá lớn để một gia đình có thể ăn hết.
Katie có thể ngắm nhìn, chụp ảnh và bỏ qua. Thay vào đó, cô bắt đầu suy nghĩ phải làm gì với nó.
Mẹ cô gợi ý một điều đơn giản: tại sao không đem tặng cho những người cần thức ăn?
Katie cầm điện thoại và gọi đến một bếp ăn từ thiện địa phương.
“Chào chị ạ,” cô nói. “Con mới chín tuổi và con trồng được một cây bắp cải thật to. Chị có dùng được không?”
Câu trả lời là có.
Cây bắp cải được chuyển đến bếp, thái nhỏ, nấu và biến thành một nồi súp lớn. Một cây bắp cải duy nhất đã nuôi 275 người.
Katie đứng bên cạnh khi các phần ăn được phát.
Lần đầu tiên cô chứng kiến điều mà trước đây chưa từng hiểu rõ. Dòng người xếp hàng yên lặng chờ thức ăn. Các tình nguyện viên làm việc nhanh để đảm bảo mọi người đều nhận được phần. Những bát súp được trao qua quầy.
Người lạ đang ăn thứ mà cô tự tay trồng.
Khoảnh khắc đó in sâu trong tâm trí cô.
Cây bắp cải bắt đầu chỉ là một bài tập lớp học đơn giản, nhưng kết quả lớn hơn rất nhiều so với dự án. Nó khiến Katie suy nghĩ về một câu hỏi mà hầu hết trẻ em không bao giờ tự đặt ra.
Nếu một cây bắp cải có thể nuôi 275 người, thì một khu vườn đầy rau quả sẽ làm được gì?
Thay vì quên trải nghiệm đó khi năm học kết thúc, cô quyết định hành động với câu hỏi này.
Cùng năm đó, cô sáng lập một ý tưởng nhỏ mà sau này vượt xa khu vườn sau nhà. Cô đặt tên là Katie’s Krops.
Ý tưởng rất rõ ràng: Trẻ em sẽ trồng rau trong vườn của chính mình. Mỗi sản phẩm thu hoạch sẽ được tặng cho những người cần thức ăn.
Không bán.
Không giữ lại.
Tất cả đều chia sẻ.
Katie bắt đầu gây quỹ nhỏ để mua hạt giống và dụng cụ. Cô nói chuyện với các bạn khác về việc trồng vườn của riêng mình. Chẳng bao lâu, cô bắt đầu trao các khoản hỗ trợ nhỏ cho những em nhỏ muốn trồng rau cho cộng đồng của mình.
Một cây bắp cải đơn lẻ đã dần lan rộng.
Trẻ em bắt đầu trồng cà chua, ớt, dưa chuột, bí ngòi, và xà lách. Những mảnh vườn sau nhà xuất hiện ở những khu phố trước đây chưa từng thấy. Một số là các luống lớn, mở trong sân. Một số chỉ là vài chậu trên sân thượng.
Quy tắc vẫn giữ nguyên:
Tất cả rau quả trồng ra sẽ được tặng hết.
Khi Katie tròn 13 tuổi, ý tưởng của cô đã nảy mầm ở hàng chục nơi. Những khu vườn lấy cảm hứng từ dự án của cô mỗi năm sản xuất hàng nghìn pound rau tươi. Các ngân hàng thực phẩm và bếp ăn từ thiện nhận được rau do trẻ em trồng, dù các em chưa từng gặp nhau nhưng được kết nối bởi cùng một mục tiêu.
Cùng năm đó, Katie được công nhận quốc tế khi nhận Giải thưởng Công dân Toàn cầu Clinton cho lãnh đạo trong xã hội dân sự.
Cô là người nhận trẻ nhất.
Sự chú ý không làm chậm công việc của cô.
Đến 17 tuổi, Katie’s Krops đã mở rộng với một trăm khu vườn do trẻ em quản lý ở 32 tiểu bang. Trong một năm, những khu vườn này sản xuất và tặng hơn 14.000 pound rau quả.
Mỗi pound do trẻ em trồng.
Mỗi pound được tặng hoàn toàn miễn phí.
Katie còn tổ chức các trại hè để các bạn trẻ gặp nhau trực tiếp, học cách trồng cây hiệu quả hơn, chăm sóc đất và suy nghĩ về vấn đề đói nghèo trong cộng đồng.
Nhiều bạn đến với tâm lý mình còn quá nhỏ để tạo ra khác biệt.
Nhưng khi ra về, các em biết mình hoàn toàn có thể.
Katie kể câu chuyện trong một cuốn sách dành cho trẻ em để các học sinh khác thấy rằng một hành động đơn giản có thể phát triển thành điều lớn lao. Sau đó, cô xuất hiện trong bộ phim tài liệu Generation Growth cùng các bạn trẻ khác nỗ lực cải thiện cộng đồng.
Tất cả những điều này diễn ra khi cô vẫn chưa đủ tuổi để đi bầu cử.
Nhưng thông điệp mà cô nhắc đi nhắc lại vẫn đơn giản:
“Không cần một khu vườn lớn,” Katie thường nói. “Chỉ một cây trong chậu cũng có thể tạo ra khác biệt.”
Một chậu.
Một cây.
Một lựa chọn chia sẻ những gì trồng được.
Khi Katie trồng cây bắp cải đó, cô không có tài trợ, không có mối quan hệ, không có kinh nghiệm quản lý tổ chức. Cô chỉ là một học sinh lớp ba chú ý đến một cây nhỏ và chăm sóc đủ lâu để thấy nó có thể trở thành gì.
Hầu hết mọi người sẽ ngắm cây bắp cải 40 pound, chụp ảnh và kết thúc câu chuyện ở đó.
Katie biến nó thành một mô hình sống, nuôi hàng trăm ngàn người và chứng minh cho trẻ em trên khắp nước Mỹ rằng các em hoàn toàn có thể góp phần giải quyết các vấn đề thực sự.
Ngày nay, các bạn trẻ trên khắp Hoa Kỳ trồng rau vì một cô bé lớp ba từng tưới cây mỗi ngày. Các em mang sản phẩm thu hoạch đến ngân hàng thực phẩm và nhà tạm trú. Các em học rằng lòng hào phóng không phụ thuộc vào giàu hay quyền lực.
Nó phụ thuộc vào cách bạn chọn làm gì với những gì mình chăm sóc.
Katie Stagliano giờ đã ngoài hai mươi, vẫn dẫn dắt tổ chức mà cô bắt đầu khi mới chín tuổi.
Cô trồng một cây bắp cải.
Nó nuôi sống hàng trăm người.
Và cô chưa bao giờ ngừng trồng.
Nỗi đói có thể trông mênh mông và xa vời, như một vấn đề quá lớn đối với người bình thường.
Rồi một đứa trẻ trồng hạt giống trong vườn nhà và nhắc nhở thế giới rằng sự thay đổi đôi khi bắt đầu ở những nơi yên tĩnh nhất.
Không phải với một bài diễn thuyết.
Không phải với một kế hoạch hoành tráng.
Chỉ là một thứ nhỏ được đặt cẩn thận xuống đất, tưới mỗi ngày và cuối cùng được chia sẻ.

Theo Story 1
My Lan Phạm